HƯỚNG DẪN CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ RỐI LOẠN ÁM ẢNH NGHI THỨC (OCD - F42)

Thứ tư - 22/06/2016 23:35
I. Khái niệm
II. Chẩn đoán
III. Cận lâm sàng
IV. Điều trị
HƯỚNG DẪN CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ RỐI LOẠN ÁM ẢNH NGHI THỨC (OCD - F42)
I. Khái niệm
Ám ảnh (Obsession) là những ý nghĩ, biểu tượng, cảm giác xuất hiện một cách cưỡng bức và tái diễn. Nghi thức (Compulsion) là những ý nghĩ hay hành vi có ý thức, được gán cho một ý nghĩ tượng trưng, được lặp đi lặp lại thường xuyên (đếm, kiểm tra, né tránh,….). Ám ảnh làm tăng lo âu và việc thực hiện các nghi thức sẽ làm giảm lo âu. Người bị rối loạn ám ảnh nghi thức vẫn nhận biết được tính vô lý của ám ảnh. Rối loạn ám ảnh nghi thức có thể làm cho bệnh nhân mất nhiều thời gian để đối phó, ảnh hưởng nhiều đến chất lượng các hoạt động nghề nghiệp, xã hội, các mối quan hệ với bạn bè, gia đình và tất cả các hoạt động sinh hoạt thường ngày của bệnh nhân.
Đặc điểm của OCD là có các ám ảnh và/hoặc có các hành vi cưỡng bức. Căn cứ vào triệu chứng mà chia làm nhiều nhóm khác nhau.
II. Chẩn đoán
1. Chẩn đoán theo ICD-10:
Để chẩn đoán chắc chắn, các ý nghĩ ám ảnh hoặc hành vi cưỡng chế  hoặc cả hai phải  hiện diện hằng ngày trong ít nhất hai tuần lễ liên tiếp, gây khổ sở cho người bệnh hoặc ảnh hưởng đến các sinh hoạt thường ngày. Các triệu chứng ám ảnh phải có những đặc điểm sau đây:
 - Người bệnh thừa nhận đó là những ý nghĩ hoặc xung động của chính mình.
 - Có ít nhất một  ý nghĩ hoặc một hành vi đang được người bệnh tiếp tục chống lại, mặc dù không có kết quả (có thể kèm theo các triệu chứng khác mà người bệnh không chống lại nữa).
 - Ý nghĩ ám ảnh hoặc hành vi cưỡng bức không mang lại một sự thích thú nào cho người bệnh (sự giảm căng thẳng hoặc lo âu không được coi như là một sự thích thú).
- Các ý nghĩ, biểu tượng hoặc xung động phải lặp đi lặp lại và gây khó chịu.
A. Hoặc những ám ảnh hoặc những hành vi nghi thức (hoặc cả hai) xuất hiện trong hầu hết các ngày của một khoảng thời gian ít nhất 2 tuần.
B. Những ám ảnh (những ý nghĩa, những tư duy hoặc hình ảnh) và những hành vi nghi thức có chung các đặc điểm sau đây, tất cả chúng phải có mặt.
(1) Chúng được thừa nhận rằng có nguồn gốc trong tâm trí của bệnh nhân và không bị áp đặc bởi những người hoặc những ảnh hưởng bên ngoài.
(2) Chúng tái diễn và rất khó chịu và phải có mặt ít nhất một ám ảnh hoặc một hành vi nghi thức, đưộc thực nhận là quá mức hoặc không hợp lý.
(3) Bệnh nhân cố gắng cưỡng lại chúng (nhưng sự kháng cự đối với những ám ảnh hoặc hành vi nghi thức đã tồn tại lâu có thể còn rất nhỏ). Phải có mặt ít nhất một ám ảnh hoặc hành vi nghi thức mà bệnh nhân kháng cự không thành công.
(4) Bản thân sự trải nghiệm tư duy ám ảnh hoặc việc thực hiện hành vi nghi thức là không dễ chịu (điều này cần được phân biệt với việc nhất thời thoát khỏi sự căng thẳng hoặc lo âu)
C. Những ám ảnh hoặc những hành vi nghi thức gây ra sự suy sụp hoặc làm rối loạn hoạt động cá nhân và hoạt động xã hội của bệnh nhân, thường do mất thời gian.
D. Những chẩn đoán loại trừ hay gặp nhất. Những ám ảnh hoặc hành vi nghi thức này không phải là kết quả của các rối loạn tâm thần khác như là bệnh tâm thần phân liệt và các rối loạn liên quan (F20-F29) hoặc các rối loạn khí sắc (cảm xúc) (F30-F39)
Chẩn đoán này có thể biệt định kỹ hơn bằng cách sử dụng các mã có bốn ký tự sau:
F42.0 Những ý tưởng hoặc nghiền ngẫm ám ảnh chiếm ưu thế
F42.1 Hành vi nghi thức chiếm ưu thế (các nghi thức ám ảnh)
F42.2 Các ý tưởng và hành vi ám ảnh hỗn hợp
F42.8 Các rối loạn ám ảnh nghi thức khác
F42.9 Rối loạn ám ảnh nghi thức, không biệt định
2. Chẩn đoán theo DSM IV:
A. Có ám ảnh hoặc hành vi cưỡng bức                                              
+ Các ám ảnh được xác định là:
- Ý nghĩ, hình ảnh hoặc xung động có tính định hình, bền vững, tái diễn, có tính cưỡng bức, ép buộc bệnh nhân phải tưởng tượng rằng đã trải nghiệm, không phù hợp với thực tế và gây lo âu, đau khổ cho người bệnh.
- Các ý nghĩ, hình ảnh hay xung động không đơn thuần là sự lo lắng quá mức về các vấn đề thực tế của họ.
- Bệnh nhân cố gắng bỏ qua hoặc kiềm chế, ngăn chặn các ý nghĩ, hình ảnh hay xung động hoặc dung hòa, dập tắt chúng bằng các ý nghĩ, hành động khác.
- Bệnh nhân thừa nhận các ý nghĩ, hình ảnh, xung động ám ảnh đó là của riêng bản thân họ chứ không phải là sự áp đặt từ bên ngoài.
+ Các nghi thức xác định là:
- Các hành vi lặp đi lặp lại (rửa tay, kiểm tra,….) hoặc các hoạt động tâm thần tái diễn (cầu nguyện, đếm, nhẩm thầm một số từ,…) mà bệnh nhân cảm thấy một sự thôi thúc phải làm để đối phó với ám ảnh.
- Các hành vi hay hoạt động đó là nhằm đề phòng hay làm giảm nhẹ các buồn khổ hoặc dự phòng một số các sự kiện hay tình huống gây sợ hãi. Tuy các hành vi là quá mức cần thiết và không phải là phương sách đã được thiết kế để làm trung hòa hoặc dự phòng tác động của sự kiện đó.
B. Ở một thời điểm tiến triển bệnh, người bệnh vẫn nhận biết rằng các ám ảnh và nghi thức là quá mức và không hợp lý.
C. Các ám ảnh và nghi thức gây đau khổ rõ rệt, làm bệnh nhân mất nhiều thời gian (hơn 1 giờ mỗi ngày) hoặc gây ảnh hưởng đáng kể đến các hoạt động nghề nghiệp, hoạt động sinh hoạt hàng ngày, kể cả các hoạt động trí óc và các quan hệ xã hội thông thường của bệnh nhân.
D. Nếu có các bệnh lý khác thì nội dung các ý tưởng, nghi thức phải không giới hạn, tập trung vào điều đó (bận tâm đến thức ăn khi có rối loạn ăn uống, nhổ tóc trong chứng nhổ tóc, quan tâm đến diện mạo trong rối loạn dị dạng cơ thể, bận tâm đến ma túy trong rối loạn liên quan lạm dụng chất, bận tâm là có một bệnh trong rối loạn nghi bệnh, nghiền ngẫm tội lỗi trong rối loạn trầm cảm điển hình,….)
E. Các rối loạn ám ảnh, nghi thức không phải là tác động trực tiếp của một chất m túy hoặc một bệnh cơ thể chung.
* Các triệu chứng ám ảnh và nghi thức đều có chung các đặc tính sau:
- Một ý tưởng hay một xung động xuất hiện ngoài ý muốn, định hình và dai dẳng ở một người không có rối loạn ý thức.
- Cảm giác lo âu sợ hãi xẩy ra đồng thời với các ý tưởng, xung động đó thường dẫn đến các biện pháp đối phó.
- Các ám ảnh và nghi thức không có tính sống động và thích thú đối với bệnh nhân. Bệnh nhân thường nhận biết đó là vô lý, không thích hợp.
- Các bệnh nhân thường cảm nhận có một sự mong muốn mạnh mẽ đối kháng lại các ám ảnh và nghi thức, khoảng 80% các bệnh nhân tin rằng các nghi thức là vô lý và không phù hợp.
III. Cận lâm sàng
- Xét nghiệm công thức máu, sinh hóa máu thường quy
- Tìm chất ma túy trong nước tiểu: test nhanh 4 hoặc 5 chỉ số.
- Điện não đồ, lưu huyết não, siêu âm Dopller mạch máu não
- Điện tâm đồ, X-quang tim phổi,
- CT Scaner, MRI sọ não
- Trắc nghiệm tâm lý: Test Beck, Zung, thang DASS, Hamilton, MMPI,….
- Các xét nghiệm chuyên khoa khác.
IV. Điều trị
          Điều trị dược lý, điều trị hành vi hoặc kết hợp cả hai đều có hiệu quả rõ rệt làm giảm các triệu chứng của các bệnh nhân OCD.
1. Điều trị dược lý
          + Thuốc chống trầm cảm ba vòng:
          Clomipramin (Anafranil)
  Liều khởi đầu: 25mg/ngày, uống vào buổi tối, cứ sau 4 ngày tăng thêm 25 mg   cho đến khi đạt kết quả điều trị.
  Liều trung bình:             200 - 250 mg/ngày.
          + Các thuốc ức chế tái hấp thu chọn lọc serotonin:
  Fluoxetin                       40 - 60 mg/ngày.
  Sertralin                         50 - 200 mg/ngày.
  Citalopram:                             60 mg/ngày.
  + Với những bệnh nhân đáp ứng điều trị kém thì kết hợp với các thuốc khác:       Clonazepam, risperidon, olanzapin, lithium,….
2. Điều trị hành vi
  Liệu pháp hành vi trong điều trị OCD gồm 2 kỹ thuật:
  + Bộc lộ ám ảnh để làm giảm các lo âu, khó chịu của bệnh nhân với các kích thích bên ngoài bằng cách tạo lập thói quen mới.
  + Kỹ thuật ngăn chặn nhằm giảm hành vi cưỡng bức và ý nghĩ ám ảnh. Bệnh nhân phải đối mặt với các kích thích gây sợ như chất bẩn, chất hóa học mà không phải rửa tay, hoặc đối mặt với ý nghĩ cân nhắc mà không phải kiểm tra lại.
3. Liệu pháp nhận thức
  Dùng để điều trị bệnh OCD nhằm giúp bệnh nhân hình thành lại nhân cách đánh giá nguy hiểm, thảm họa, lo âu quá mức, sự liên hệ không hợp lý.
4. Các trị liệu khác
  Đối với các bệnh nhân kháng thuốc:
  + Sốc điện: tiến hành trước phẫu thuật thần kinh.
  + Phẫu thuật: cắt bỏ bó liên hợp khứu hải mã, thành công ở 25 - 30 % các BN OCD kháng thuốc và điều trị hành vi.
 

Tổng số điểm của bài viết là: 1 trong 1 đánh giá

Xếp hạng: 1 - 1 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn có thích thư viện phác đồ hiện tại?

Liên kết Website
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây